Trong một bài viết năm một nghìn tám trăm tám mươi chín mà về sau được gọi là phúc âm của sự giàu có, Andrew Carnegie cho rằng người giàu chỉ là người giữ của cho xã hội. Theo ông, người giàu phải tự tay đem tài sản ra làm những việc ích chung ngay khi còn sống, và người nào chết mà vẫn còn giàu thì chết trong ô nhục.
Chào bạn, đây là Nhà Tài Phiệt. Chuyên mục này mình nói về từ thiện và di sản của giới tài phiệt. Không có gì hợp hơn để mở đầu bằng bài viết đã gần như đặt nền móng cho cả ngành từ thiện hiện đại.
Hoàn cảnh ra đời của bài viết
Cuối thập niên tám mươi của thế kỷ mười chín, Carnegie đã là một trong những người giàu nhất nước Mỹ. Khoảng cách giàu nghèo ở Mỹ lúc ấy rất lớn, những cuộc đình công và xung đột giữa chủ và thợ xảy ra liên tục.
Nhiều người đặt câu hỏi: một xã hội có thể chấp nhận một số ít người giàu tới mức ấy trong khi hàng triệu người làm thuê sống chật vật hay không?
Carnegie trả lời bằng một bài viết đăng trên một tạp chí lớn. Ông không phủ nhận sự bất bình đẳng, mà cho rằng nó là cái giá của tiến bộ. Theo ông, vấn đề không phải là vì sao có người giàu, mà là người giàu phải làm gì với của cải của mình.
Ông viết như một người đã nghĩ kỹ về chuyện này từ lâu. Ngay từ hơn hai mươi năm trước, ông từng ghi trong sổ tay riêng rằng mình nên thôi làm giàu khi đã đủ và dành phần đời còn lại cho việc khác.
Ba cách dùng tài sản của người giàu
Carnegie chia ra ba cách mà người giàu thường dùng tài sản. Cách thứ nhất là để lại hết cho con cháu. Ông cho rằng đó là cách tệ nhất, vì nó thường làm hư con cháu và không giúp gì cho xã hội.
Cách thứ hai là để lại tài sản cho việc công ích sau khi mất. Ông cho rằng như vậy tốt hơn, nhưng vẫn kém, vì người chết không còn giám sát được, và tiền thường bị dùng khác với ý muốn ban đầu.
Cách thứ ba, theo ông là cách đúng, là người giàu tự tay quản lý việc đem tài sản ra phục vụ cộng đồng ngay khi còn sống, dùng chính tài năng kinh doanh đã giúp mình làm ra của để làm cho của ấy sinh ích nhiều nhất.
Từ đó ông đi tới câu nói nổi tiếng: người chết mà vẫn giàu là chết trong ô nhục. Ông muốn biến việc cho đi thành một nghĩa vụ, không chỉ là một lòng tốt tuỳ hứng.
Vì sao Carnegie chê bố thí tràn lan?
Một điều nhiều người ngạc nhiên là Carnegie phản đối việc phát tiền, phát đồ trực tiếp cho người nghèo một cách tràn lan. Ông cho rằng nó có thể nuôi sự ỷ lại thay vì giúp người ta đứng lên.
Ông muốn tiền được đặt vào những thứ giúp người chịu khó có thang để leo: thư viện, trường đại học, công viên, phòng hoà nhạc, bể bơi công cộng, viện nghiên cứu. Đó là những nơi ai muốn tự học, tự rèn đều vào được.
Quan điểm ấy có phần đúng, và cũng có phần khắc nghiệt. Người đang đói không đọc sách được, và không phải ai nghèo cũng vì lười. Nhiều nhà hoạt động xã hội thời ấy phản bác ông về điểm này.
Dù vậy, cách nghĩ của Carnegie đã định hình rất nhiều quỹ từ thiện lớn về sau: tập trung vào những thứ tạo ra cơ hội lâu dài, thay vì chỉ giải cứu tình thế trước mắt.
Lời phản bác của người đương thời
Bài viết của Carnegie được khen nhiều, nhưng cũng bị chỉ trích gay gắt. Người phản bác hỏi: nếu của cải ấy thật sự thuộc về xã hội, sao không trả lương cao hơn cho công nhân ngay từ đầu, để họ tự quyết định cách dùng tiền của mình?
Chỉ ba năm sau bài viết, cuộc đình công Homestead nổ ra tại chính một nhà máy thép của Carnegie, kết thúc bằng đổ máu và công đoàn bị đánh tan. Với nhiều người, sự đối lập giữa lời nói và thực tế là quá rõ.
Có người cho rằng triết lý của Carnegie là cách để người giàu giữ quyền quyết định thay cho xã hội: họ chọn xây thư viện, nhưng không ai hỏi người dân có cần thư viện hơn hay cần lương cao hơn.
Những tranh luận ấy đến nay vẫn còn nguyên, mỗi khi một người rất giàu tuyên bố cho đi phần lớn tài sản. Mình sẽ quay lại câu hỏi ấy ở một tập cuối chuyên mục.
Carnegie có làm đúng lời mình viết không?
Về phần cho đi, ông làm khá đúng. Sau khi bán công ty thép năm một nghìn chín trăm lẻ một, ông dành phần đời còn lại cho việc tặng tiền: thư viện, trường học, viện nghiên cứu, quỹ hưu cho giáo sư, quỹ vì hoà bình, một phòng hoà nhạc nổi tiếng ở New York.
Ông còn tài trợ xây toà nhà dành cho toà án quốc tế ở La Haye, nơi về sau thường được gọi là Cung điện Hoà bình. Ông tin rằng các nước có thể giải quyết tranh chấp bằng pháp luật thay vì chiến tranh.
Khi ông mất năm một nghìn chín trăm mười chín, phần lớn tài sản đã được đem cho đi, phần còn lại chủ yếu chuyển cho quỹ mà ông lập để tiếp tục công việc.
Còn phần về cách đối xử với công nhân thì như mình đã nói, là vết đen không xoá được. Bạn nghĩ sao, một người cho đi gần hết tài sản có thể được tha thứ cho cách mình đã làm ra tài sản ấy không?
Câu hỏi thường gặp
Phúc âm của sự giàu có là gì?
Đó là cách gọi bài viết năm một nghìn tám trăm tám mươi chín của Andrew Carnegie về trách nhiệm của người giàu. Ông cho rằng người giàu phải dùng tài sản cho lợi ích chung ngay khi còn sống.
Câu người chết mà giàu là chết ô nhục nghĩa là gì?
Carnegie muốn nói rằng tích luỹ của cải tới lúc chết mà không dùng cho xã hội là một điều đáng xấu hổ. Câu nói ấy biến việc cho đi thành một nghĩa vụ đạo đức của người giàu.
Carnegie muốn tiền từ thiện dùng vào đâu?
Ông ưu tiên những thứ giúp người chịu khó tự vươn lên như thư viện, trường đại học, công viên, phòng hoà nhạc và viện nghiên cứu. Ông phản đối việc phát tiền tràn lan vì cho rằng nó dễ nuôi sự ỷ lại.
Vì sao triết lý của Carnegie bị chỉ trích?
Người phản bác cho rằng nếu tài sản thuộc về xã hội thì nên trả lương công bằng cho công nhân ngay từ đầu. Cuộc đình công Homestead đổ máu tại nhà máy của ông làm lời chỉ trích càng mạnh.
Carnegie đã cho đi bao nhiêu tài sản?
Ông cho đi phần lớn tài sản khi còn sống, phần còn lại chủ yếu chuyển vào quỹ mà ông lập. Con số cụ thể mỗi nguồn tính một kiểu, nhưng ai cũng đồng ý đó là một trong những đợt cho đi lớn nhất thời ấy.